Nguyên nhân chủ yếu khiến nước ngầm ở nước ta bị nhiễm thạch tín là do cấu tạo tự nhiên của địa chất và bị ảnh hưởng do các nhà máy hoá chất, các khu khai thác quặng, những khu vực nông nghiệp sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật, một phần khác là do giếng khoan không thực hiện đúng các tiêu chuẩn kỹ thuật khoan giếng của UNICEE, khiến chất bẩn, độc hại bị nhiễm xuống mạch nước ngầm.

 

Nguồn gây ô nhiễm môi trường của As rất đa dạng. Đó là các quá trình oxy hoá hoà tan quặng chứa As, di chuyển vào trong nước, đất và sinh vật sống. Sự tăng cao hàm lượng As trong đất, trong nước do các bãi rác thải và nước thải của các nhà máy, xí nghiệp... Tình trạng ô nhiễm As sẽ gây ra bệnh ung thư, biểu mô da, phổi, xoang... và các bệnh hiểm nghèo khác. Các triệu chứng sớm của ngộ độc As cấp bao gồm đau bụng dữ dội, nôn mửa, tiêu chảy cấp, phân như “nước vo gạo”, đau cơ, suy nhược, phù nề da. Trong trường hợp nặng có thể tiến triển vào dạng hôn mê và tử vong do liệt cơ hô hấp. ở một số nước trên thế giới đã chịu tác động nặng nề của nhiễm độc As. Còn ở nước ta, tại một số tỉnh khu vực đồng bằng Bắc bộ như Nam Định, Ninh Bình, Hà Tây, Hải Dương, Hà Nam... có tỷ lệ ô nhiễm As tương đối cao. Trước mối lo ngại về ảnh hưởng của nhiễm độc As, Bắc Ninh đã chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Tổng cục TN và MT tiến hành nghiên cứu, đánh giá thực trạng As và đề xuất những giải pháp chế ngự. Sau hơn một năm tiến hành, qua 3 đợt điều tra trên địa bàn 125/125 xã phường, thị trấn với tổng số 10.874 mẫu nước được điều tra, khảo sát có 7.836 mẫu nước thô và 3.038 mẫu nước sau xử lý, đã phát hiện 424 mẫu có hàm lượng Asen vượt tiêu chuẩn cho phép (>0.05mg/l). Trong đó, 7.836 mẫu nước thô có 346 mẫu vượt tiêu chuẩn cho phép (>0.05 mg/l); 3.038 mẫu nước đã qua xử lý có 78 mẫu vượt tiêu chuẩn cho phép (>0.05 mg/l). Trong số 424mẫu/424 hộ có hàm lượng Asen vượt tiêu chuẩn cho phép phân bố rải rác ở tất cả các huyện, thị xã, thành phố. Gồm có: Gia Bình 77 hộ; Lương Tài 38 hộ; Quế Võ 29 hộ; Thuận Thành 68 hộ; Tiên Du 67 hộ; thành Phố Bắc Ninh 25 hộ; Từ Sơn 96 hộ; Yên Phong 24 hộ. Từ thực trạng nhiễm độc As trong nước ngầm ở một số địa phương, các cơ quan chuyên môn đã đề xuất một số phương pháp nhằm giảm thiểu, xử lý As.

 

Khi nguồn nước ngầm bị ô nhiễm As, có thể sử dụng một số nguồn nước khác để thay thế dùng cho ăn uống, sinh hoạt: nước mưa, nước mặt. Nước mưa an toàn, không có As nhưng có khả năng ô nhiễm nitrit nên trước khi vào bể chứa nên lọc qua lưới hoặc cát để ngăn lá cây, loại bỏ bụi. Để mưa rửa mái nhà khoảng 10 phút cho sạch rác, phân chim rồi hãy lấy nước. Đối với nước mặt, As trong nước mặt (sông suối, ao hồ) thường chỉ ở dạng vết (<0,01 - 0,02 mg/l As). Bởi vậy nước mặt có thể được chọn làm nước ăn uống ở những vùng mà nước ngầm bị ô nhiễm As. Song nước bề mặt từ sông suối, ao hồ có thể bị ô nhiễm nặng bởi các yếu tố khác. Khi sử dụng cần chú ý xem nó có bị ô nhiễm bởi nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, chất thải khai thác vàng (CN-, Hg), đặc biệt là các loại hóa chất sử dụng trong nông nghiệp hay không. Không nên dùng nước ở các mương tiêu làm nguồn cấp nước sinh hoạt vì nguy cơ ô nhiễm thuốc trừ sâu là rất lớn.

 

Tuy vậy, việc sử dụng nước mưa và nước mặt để dùng làm nước sinh hoạt cho một số vùng gặp khó khăn, không đủ dùng cho sinh hoạt, phải dùng nước ngầm thay thế (có thể đã bị ô nhiễm As: hàm lượng As trong nước ngầm cao hơn tiêu chuẩn cho phép), thì có thể sử dụng một số biện pháp giảm thiểu là: dùng bể lọc cát loại bỏ sắt và As; Sử dụng nước giếng khoan có tăng cường làm thoáng; Thiết bị lọc As quy mô hộ gia đình; bổ sung vật liệu lọc As khi dùng nước giếng khoan ít sắt. Công nghệ xử lý As trong nước ngầm là keo tụ bằng hóa chất: sử dụng mạt sắt kết hợp với cát, Hydroxyt sắt, dùng nhôm hoạt hóa hoặc phương pháp trao đổi Ion, Oxy quang hóa, công nghệ lọc màng... Trong đó, có 2 phương pháp hợp lý nhất là tăng cường làm thoáng nước dưới đất trước khi đưa vào sử dụng và sử dụng thiết bị lọc As quy mô hộ gia đình. áp dụng cho vùng chưa có điều kiện xây dựng trạm cấp nước tập trung. Các khoáng limonit cát đen chứa mangan, apatit có thể nạp vào thiết bị lọc kích thước nhỏ để làm sạch As ở hộ gia đình. Bên cạnh các gải pháp về mặt kỹ thuật, tại các vùng bị nhiễm As, cần tuyên truyền với chính quyền và dân dân trong khu vực biết được thực trạng ô nhiễm As trong nguồn nước ngầm, mức độ ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người, để áp dụng các biện pháp giảm thiểu. Các cơ quan chuyên môn chuyển giao cho chính quyền địa phương và các hộ dân áp dụng triệt để các giải pháp kỹ thuật nhằm giảm thiểu tối đa mức độ ảnh hưởng độc tố As. Khuyến cáo nhân dân trong vùng không sử dụng nguồn nước có nhiễm As cao mà chưa qua xử lý triệt để, đặc biệt là các khu vực tập trung đông dân cư./..

 

Các từ khóa theo tin:

Vũ Anh (Tổng hợp)

Giải pháp giảm thiểu và xử lý nhiễm độc Arsen trong nước
02/09/2009
 
 
 
cpv.org.vn
Tổng cục Môi trường giữ toàn bộ bản quyền
Vietnam Envrironement Administration - All Rights Reserved 2008-2009