Nghiên cứu tại các bệnh viện ở Thái Lan: Quản lý chất thải nguy hại ở bệnh viện do tư nhân vận chuyển
05/11/2008
Dưới đây là một trong những báo cáo của các giáo sư Thái Lan tại Hội nghị khoa học quốc tế về y học lao động và vệ sinh môi trường lần thứ III vừa diễn ra ở Hà Nội.

Kết quả báo cáo này cho thấy ở Bangkok, việc thu gom và vận chuyển rác thải y tế hầu hết được giao cho tư nhân. Tuy nhiên, trong báo cáo này cũng cho thấy tiềm ẩn những nguy cơ cũng như còn thiếu những tiêu chuẩn cần thiết đối với nguồn rác thải độc hại này.

Mục đích của nghiên cứu định lượng này là phân tích việc quản lý chất thải bệnh viện nguy hại do công ty tư nhân. Mười hai bệnh viện thuộc Bộ Sức khỏe công cộng tại Bắc Thái Lan đã được lựa chọn. Các bệnh viện này bao gồm bốn bệnh viện vùng, bốn bệnh viện tỉnh, bốn bệnh viện huyện đều do công ty tư nhân quản lý chất thải nguy hại. Trong đó, kỹ thuật lấy mẫu có chủ định đã được sử dụng để lựa chọn bệnh viện. Phương pháp nghiên cứu định lượng bao gồm việc quan sát các cuộc nói chuyện chính thức, không chính thức và phỏng vấn sâu đã được áp dụng.

Tồn tại nguy cơ cao với rác thải y tế

Với nghiên cứu này, đối tượng nghiên cứu là các bác sĩ, y tá, khoa chất thải nguy hại, cán bộ môi trường và người vận chuyển chất thải. Số liệu được thu thập từ tháng 5 đến tháng 8-2007. Kết quả như sau:

Thứ nhất, các kết quả về kế hoạch và chính sách cho thấy hầu hết các bệnh viện đều có kế hoạch và chính sách nhưng trên thực tế là không thường xuyên. Sự thiếu hụt trong hiểu biết và nhận thức đối với việc quản lý chất thải nguy hại ví dụ như việc thu gom và phân loại nếu được tổ chức tốt sẽ giúp giảm số lượng của chất thải nguy hại.

Thứ hai, việc vận chuyển trong các bệnh viện. Thiếu đường để vận chuyển chất thải nguy hại riêng với rác thông thường. Thiếu phương tiện vận chuyển theo tiêu chuẩn bởi vì tiêu chuẩn của Bộ Sức khỏe công cộng năm 2002 quy định vận chuyển chất thải nguy hại bằng đường thông thường, thiếu phương tiện vận chuyển, di chuyển bằng tay kéo, thiếu hiểu biết và nhận thức và quần áo bảo hộ. Đối với các phương tiện bảo hộ còn thiếu phương tiện bảo hộ cá nhân.

Thứ ba, đối với nơi chứa chất thải nguy hại. Cấu trúc và xây dựng đạt tiêu chuẩn thấp của Bộ Sức khỏe công cộng. Không có máy điều hòa nhiệt độ và khống chế nhiệt độ nhỏ hơn 10oC, đặc biệt là khi có ít chất thải và thu gom không đúng giờ. Có hiện tượng lên men và mùi hôi.

Thứ tư, công nhân làm việc tại các công ty tư nhân còn thiếu hiểu biết và nhận thức đặc biệt là sự nguy hiểm từ việc ép các túi chứa chất thải nguy hại gây ra, công nhân không có quần áo bảo hộ.

Thứ năm, các dấu hiệu hiện nay tại Thái Lan cho thấy chưa có hệ thống các dấu hiệu tiêu chuẩn. Sự giảm khối lượng là ví dụ chính đối với chất thải nguy hại

Kiến nghị đối với bệnh viện

Cần thiết phải xây dựng chính sách và kế hoạch đối với việc thực hành, kiểm tra cũng như đánh giá hệ thống để giảm khối lượng chất thải nguy hại. Đối với cán bộ, cần tăng cường kiến thức trong việc quản lý chất thải nguy hại và kiểm tra các công ty tư nhân trước khi được bệnh viện hoặc Bộ Sức khỏe công cộng cấp phép hoạt động. Đối với chính sách nhà nước, cần phải chú ý đến khâu vận chuyển, đưa ra hệ thống các dấu hiệu, bao gồm cả việc phát triển điều kiện làm việc tiêu chuẩn cho cán bộ và tổ chức.

Nghiên cứu ảnh hưởng ô nhiễm môi trường không khí đô thị do phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ở Hà Nội đến sức khỏe cộng đồng và biện pháp bảo vệ

Đề tài được tiến hành tại năm nút giao thông và 14 trục đường phố chính ở nội thành Hà Nội, trong đó có một đường và nút giao thông đối chứng. Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá ô nhiễm không khí do các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng và đề xuất các biện pháp bảo vệ. Đề tài tiến hành vào hai mùa nóng và lạnh. Nội dung xác định mức độ ô nhiễm môi trường không khí đô thị; đánh giá ảnh hưởng ô nhiễm không khí lên sức khỏe cộng đồng thông qua phỏng vấn, điều tra sức khỏe, bệnh tật, tử vong, khám lâm sàng và làm các xét nghiệm cận lâm sàng. Trên cơ sở các số liệu nghiên cứu sẽ đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.

Kết quả nghiên cứu cho thấy một số yếu tố chính như bụi (bụi tổng số, PM10, PM5), CO, SO2, NO2 vượt quá nồng độ tối đa cho phép từ 1,4 đến 11 lần. Đặc biệt vào mùa nóng, nồng độ các chất ô nhiễm vượt nồng độ tối đa cho phép cao hơn mùa lạnh. Tiếng ồn ban ngày vượt giới hạn tiêu chuẩn cho phép 3,2-9,5 dBA và vào ban đêm vượt giới hạn tiêu chuẩn cho phép 25,6-26,5 dBA.

Có ảnh hưởng của ô nhiễm không khí tới sức khỏe cộng đồng thể hiện qua tỷ lệ mắc bệnh và các triệu chứng, tổn thương bệnh lý ở các cơ quan hô hấp, hệ thần kinh trung ương và thần kinh thực vật, tim, mạch, mắt, mũi, họng, da, ở nhóm nghiên cứu cao hơn nhóm đối chứng với OR từ 1,18 đến 4,25; P < 0,05 đến P< 0,001.

Các tác giả đã tiến hành một số biện pháp can thiệp làm giảm bụi. Kết quả đã giảm nồng độ bụi tổng số 5,3 lần và bụi PM5 giảm 3,7 lần ở trục đường giao thông chính; giảm 1,7 lần bụi tổng số và 1,8 lần bụi PM5 ở nút giao thông.

Các tác giả đã nêu một số khuyến nghị như giảm phương tiện giao thông cá nhân, tăng phương tiện giao thông công cộng. Tổ chức kiểm tra, giám định các phương tiện giao thông về khí thải. Sử dụng xăng có hàm lượng sulfure và benzen thấp. Tăng cường hoạt động truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng góp phần giảm thiểu ô nhiễm không khí đô thị, giữ gìn không khí Hà Nội trong sạch.

NM (Theo Nguyễn Duy Bảo, Đinh Xuân Ngôn, Nguyễn Bích Thủy thuộc Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường và Phạm Khắc Thủy, Tổng cục Cảnh sát)

Pháp luật TPHCM
Tổng cục Môi trường giữ toàn bộ bản quyền
Vietnam Envrironement Administration - All Rights Reserved 2008-2009